Tóm tắt kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật, thủ thuật tiết niệu
Ngày đăng: 13/01/2020 - Lượt xem: 5544

Việc sử dụng kháng sinh dự phòng là rất cần thiết trong các phẫu thuật, thủ thuật. Riêng các phẫu thuật, thủ thuật đường tiết niệu được các Hiệp hội trên thế giới đưa ra các khuyến cáo khác nhau tùy vào sự khác biệt về vi khuẩn và tính nhạy cảm với kháng sinh giữa các khu vực.

Nhiễm khuẩn vết mổ và nhiễm khuẩn tiết niệu sau phẫu thuật là những biến chứng phẫu thuật phổ biến. Tại Mỹ, nhiễm khuẩn vết mổ xảy ra ở 2-5% bệnh nhân nội trú và chiếm 20% nhiễm khuẩn cần nhập viện điều trị. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ được ghi nhận trong một nghiên cứu tại một số bệnh viện các tỉnh phía Bắc năm 2008 là 10,5%. Nhiễm khuẩn tiết niệu sau phẫu thuật thường liên quan đến đặt thông tiểu. Ước tính 12-16% bệnh nhân nội trú có đặt thông tiểu trong quá trình nằm viện, và tỷ lệ phát triển thành nhiễm khuẩn tiết niệu là 3-7%/ ngày. Kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật đã làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ.

Lựa chọn kháng sinh dự phòng phải dựa trên cơ sở mầm bệnh tại địa phương cho từng loại can thiệp, tính nhạy cảm và độc lực của vi khuẩn cũng như tính sẵn có của các kháng sinh. Nhiều kháng sinh thích hợp cho điều trị dự phòng như co-trimoxazol, cephalosporin thế hệ II, aminopenicillin/chất ức chế tiết beta lactamase, và aminoglycosid. Các kháng sinh phổ rộng hơn như fluoroquinolon, cephalosporin thế hệ III và nhóm carbapenem nên được sử dụng một cách dè dặt. Cần nuôi cấy nước tiểu trước phẫu thuật và cá thể hóa kháng sinh dự phòng cho từng bệnh nhân với các yếu tố nguy cơ khác nhau. Trong trường hợp thiếu dữ liệu vi sinh tại địa phương, tóm tắt sau đây có thể được dùng để hỗ trợ cho việc sử dụng kháng sinh dự phòng.

Chi tiết xem tại đây.



Hình ảnh hoạt động nổi bật

Liên hệ / Gửi câu hỏi

Liên kết website

Thống kê truy cập

  • Online: 15

  • Tổng lượt truy cập: 9457897

  • Hôm nay: 11