TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ỨC CHẾ HỆ RENIN-ANGIOTENSIN LÊN KHẢ NĂNG BẢO VỆ CƠ QUAN ĐÍCH
Ngày đăng: 28/03/2025 - Lượt xem: 507
Hệ renin-angiotensin (RAS) là một cơ quan điều hòa chính của huyết áp và phản ứng của mạch máu đối với chấn thương. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy ức chế RAS có thể cung cấp khả năng bảo vệ cơ quan đích độc lập với việc hạ huyết áp. Hai nhóm thuốc nhắm trực tiếp vào angiotensin II thông qua các cơ chế bổ sung gồm: thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) ngăn chặn quá trình chuyển đổi angiotensin I thành peptide hoạt động angiotensin II và làm tăng khả dụng của bradykinin, và thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) đối kháng chọn lọc với angiotensin II tại thụ thể AT1 và cũng có thể làm tăng hoạt hóa thụ thể AT2 và điều chỉnh tác dụng của các sản phẩm phân hủy angiotensin II.
Bài báo này trình bày tổng quan về dữ liệu lâm sàng hỗ trợ việc sử dụng thuốc ức chế RAS (thuốc ACEI và ARB) như liệu pháp đơn trị liệu hoặc liệu pháp phối hợp dựa trên vai trò đã biết của RAS trong điều hòa huyết áp và phản ứng của mạch máu đối với chấn thương, đồng thời xem xét ý nghĩa của dữ liệu đối với việc điều trị trong tương lai.
Phương pháp: Các nghiên cứu thử nghiệm và lâm sàng có liên quan đã được xác định bằng cách tìm kiếm MEDLINE (1969-30/6/2007) bằng cách sử dụng các thuật ngữ tìm kiếm chính là hệ thống renin-angiotensin, chất ức chế men chuyển angiotensin, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II và thuốc chẹn RAS kép. Các thử nghiệm được đưa vào bài đánh giá là các nghiên cứu có đối chứng ngẫu nhiên, có triển vọng, quy mô lớn (>200 bệnh nhân) đánh giá tác dụng của ức chế RAS đối với việc bảo vệ cơ quan đích ở các nhóm dân số có nguy cơ cao.
Kết quả: Đã xác định được 11 thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng của liệu pháp đơn trị bằng thuốc ACEI và ARB đối với việc bảo vệ cơ quan đích. Đã xác định được 5 thử nghiệm đánh giá tác dụng của liệu pháp phối hợp thuốc ACEI và ARB so với điều trị bằng từng thuốc riêng lẻ ở các quần thể bệnh nhân khác nhau sử dụng các điểm kết thúc khác nhau. Ở những bệnh nhân tăng huyết áp mắc bệnh tiểu đường loại 2 và vi niệu đạm, liệu pháp phối hợp thuốc ACEI/ARB dẫn đến kiểm soát huyết áp tốt hơn so với từng thuốc riêng lẻ (chênh lệch trung bình, 11,2 mmHg tâm thu [p = 0,002], 5,9 mmHg tâm trương [p = 0,003]), cũng như giảm vi niệu đạm nhiều hơn (chênh lệch trung bình trong tỷ lệ albumin:creatinin, 34%; p = 0,04). So với liệu pháp đơn trị, ức chế RAS kép làm giảm nguy cơ tăng gấp đôi nồng độ creatinin huyết thanh hoặc bệnh thận giai đoạn cuối từ 60% đến 62% ở những bệnh nhân mắc bệnh thận không do đái tháo đường (p = 0,018 so với chỉ dùng thuốc ACEI; p = 0,016 so với chỉ dùng thuốc ARB). Một nghiên cứu mới công bố đã báo cáo rằng liệu pháp phối hợp chỉ mang lại lợi ích không đáng kể so với liệu pháp đơn trị ở một nhóm bệnh nhân tăng huyết áp có nồng độ albumin niệu vi thể cao khi bắt đầu (giảm lần lượt là 58,1% so với 43,4%).
Ở những bệnh nhân suy tim và phân suất tống máu thất trái ≤ 40%, nguy cơ tử vong do tim mạch hoặc nhập viện do suy tim giảm 15% ở những người dùng ARB kết hợp với ACEI so với những người dùng giả dược kết hợp với ACEI (p=0,011). Các nghiên cứu đang tiến hành tìm hiểu về việc phong tỏa RAS kép ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị tổn thương cơ quan đích, cũng như liều lượng hiệu quả nhất để sử dụng trong các phác đồ kết hợp.
Kết luận: Có bằng chứng tích lũy cho thấy các chế độ điều trị tăng huyết áp ức chế RAS có thể tăng sự bảo vệ cơ quan đích. Kết hợp thuốc ACEI và ARB để cung cấp sự ức chế RAS rộng rãi hơn có thể hỗ trợ hạ huyết áp hiệu quả và tăng bảo vệ cơ quan đích hơn so với việc sử dụng riêng từng nhóm.
Nguồn: Weir MR. Effects of renin-angiotensin system inhibition on end-organ protection: can we do better? Clin Ther. 2007 Sep;29(9):1803-24.